Viêm đại tràng do Amip

Thứ 7, 21/11/2015 | 08:48

Viêm đại tràng do amip là bệnh lý gây ra bởi các tổn thương trên niêm mạc đại tràng do amip gây ra khi người bệnh bị nhiễm amip. Bệnh do đơn bào Entamoeba histolytica thuộc họ Entamoebidae , bộ Amoebida, ngành Protozoa gây ra, lây qua đường miệng do nhiễm phải kén amip của bệnh nhân hoặc người lành mang bệnh thải ra môi trường.

>> Tổng quát về bệnh viêm đại tràng

>> Viêm đại tràng màng giả

>> Viêm đại tràng khi nào nên uống kháng sinh

1. Dịch tễ học lỵ amip

* Phân loại lỵ amip

  • Thể hoạt động lớn (Entamoeba histolytica forma magna) tìm thấy ở phân, chỗ nhiều nhầy- máu của bệnh nhân amip ruột, kích thước 15-30 micromet, hoạt động mạnh nhất ở nhiệt độ 37°C và pH 6,5.
  • Thể hoạt động nhỏ (Entamoeba histolytica forma minuta) sống trong lòng đại tràng có kích thước dao động 8-25 micromet chuyển động chậm hơn thể hoạt động lớn.
  • Thể kén (Entamoeba histolytica forma cystica) là thể được tạo thành từ thể hoạt động nhỏ. Thể kén có hình ô van hoặc tròn đường kính từ 10-14 micromet, được bọc bởi 2 lớp vỏ. Thể kén non có 1 nhân nhưng khi già có 4 nhân. Sự tạo thành thể kén là tất yếu trong vòng đời của amip và đóng vai trò lây bệnh.

amip.jpg

Hình ảnh loài amip Entamoeba histolytica

* Nguồn bệnh và đường lây

Là người bệnh (cả thể cấp và mạn) và người lành mang trùng thải kén amip theo phân gây ô nhiễm thực phẩm và nước uống. Người mắc bệnh thường bị lây bệnh qua đường tiêu hoá do thức ăn, nước uống nhiễm kén amip. Kén amip tồn tại ở ngoại cảnh tương đối tốt: ở nhiệt độ 17-20°C chúng tồn tại hàng tháng; ở 45°C kén chết sau 30 phút, ở 85°C chết sau vài giây. Với thuốc khử trùng Crezyl 1/250 có thể diệt kén amip trong vòng 5-15 phút.

* Đối tượng thường mắc bệnh

Mọi lứa tuổi đều có thể nhiễm amip nhưng 90% người nhiễm là không có triệu chứng, chỉ có 10% số người bị nhiễm có biểu hiện bệnh lỵ amip hoặc áp xe ở các cơ quan khác nhau

2. Cơ chế gây bệnh

Kén amip sau khi xâm nhập vào cơ thể thông quá hệ thống ống tiêu hóa nhờ tác dụng của acid dịch vị phá vỡ vỏ, 4 amip nhỏ (forma minuta) được hình thành từ 4 nhân trong kén amip , chúng di chuyển đến nơi có nhiều chất dinh dưỡng với độ pH ổn định là hồi manh tràng để phát triển. Khi hệ tiêu hóa khỏe mạnh chúng không có khả năng gây bệnh bị đào thải ra ngoài theo phân. Chúng chỉ có cơ hội gây bệnh khi thành ruột bị tổn thương ( các vết loét do chấn thương hoặc vi khuẩn khác). Khi đó, các amip nhỏ phát triển tại đó, tiết các enzyme gây phân hủy protein làm hoại tử thành ruột.

3. Triệu chứng

* Lỵ amip cấp tính

Bệnh ủ trong thời gian từ 1- 2 tuần, có thể kéo dài tới 3 tháng:

- Khởi phát: Một số bệnh nhân có thể thấy dấu hiệu tiến triển như: Mệt mỏi, chán ăn, chóng mặt, đau bụng... Điểm khác cơ bản với bệnh lỵ trực khuẩn là bệnh nhân lỵ amip thường cảm thấy sức khoẻ tương đối bình thường, hôi chứng nhiễm trùng, nhiễm độc không rõ ràng, bệnh nhân thường không có sốt hoặc sốt rất nhẹ, bạch cầu không tăng.

- Toàn phát: Đặc trưng của bệnh lỵ amip là những triệu chứng tổn thương của đại tràng còn gọi là hội chứng lỵ. Hội chứng lỵ gồm 3 triệu chứng chủ yếu là:

  • Đau quặn bụng: Bệnh nhân lỵ amip thường đau bụng quặn từng cơn ở vùng hố chậu phải (tương ứng với vùng hồi manh tràng). ở những trường hợp bệnh kéo dài có thể thấy đau cả vùng 2 hố chậu (tổn thương tới đại tràng xích ma và trực tràng).
  • Mót rặn và đi ngoài "giả": Bệnh nhân thường xuyên cảm giác mót rặn sau mỗi cơn đau quặn, đi ngoài phải rặn nhiều và nếu kéo dài có thể dẫn tới biến chứng trĩ hoặc sa niêm mạc trực tràng. ở bệnh nhân lỵ amip thường thấy đi ngoài "giả" tức là rất mót đi ngoài nhưng lại không có phân, khác hẳn ở lỵ trực khuẩn mót đi ngoài thì thường ít nhiều đều có phân.
  • Đi ngoài nhiều lần, phân nhầy máu: Số lần đi ngoài ở bệnh nhân lỵ amip thường từ 4-10 lần/ngày, ít khi đi ngoài nhiều lần như lỵ trực khuẩn. Lúc đầu phân thường lỏng, có bã phân nhưng những ngày sau phân chỉ còn nhầy trong như nhựa chuối và máu. Nhầy và máu thường riêng rẽ chứ không hoà lẫn với nhau như ở lỵ trực khuẩn..

* Lỵ amip mãn tính

Lỵ amip cấp tính thường kéo dài 4-6 tuần, nếu không được điều trị đặc hiệu thì sẽ chuyển sang mạn tính. Sau thời kỳ cấp tính dù không được điều trị bệnh nhân cũng cảm thấy đỡ dần, số lần đi ngoài giảm dần như có xu hướng khỏi. Tuy vậy bệnh vẫn diễn biến âm ỉ mạn tính và sẽ có những đợt tái phát cấp tính. Chính vì vậy nhiều tác giả chia lỵ amip mạn tính ra 2 thể: Mạn tính có từng đợt tái phát xen kẽ với những thời gian bình thường và mạn tính liên tục. Lỵ amip mạn tính có thể kéo dài tới 10 năm hoặc lâu hơn nữa.

4. Chẩn đoán

Trước khi làm các xét nghiệm cần thiết bệnh nhân cần được hỏi tiền sử bệnh lý, triệu chứng đau quặn, mót rặn. Sau đó làm các xét nghiệm cận lâm sàng như:

- Soi đại tràng tìm các vết loét hình khuy áo, trên đó có chất nhày

- Soi phân tìm amip; có thểthực hiện xét nghiệm tìm amip ở chất nhày

- X- Quang đại tràng: tìm hình ảnh khối u amip hoặc chỗ thụt

- Nhuộm soi mẫu bệnh phẩm tìm dấu hiệu của amip ký sinh

Cần phải phân biệt với bệnh lỵ trực khuẩn vì đều có hội chứng lỵ. Tuy vậy bệnh lỵ trực khuẩn thường diễn biến cấp tính với hội chứng nhiễm trùng nhiễm độc rõ. Các triệu chứng của hội chứng lỵ cũng khác: Đau bụng dọc theo khung đại tràng, đặc biệt là đại tràng xích ma và trực tràng, đi ngoài nhiều lần, phân nhầy đục máu lẫn lộn, hoặc loãng như nước rửa thịt...Phân biệt với viêm đại tràng mạn, với bệnh Crohn, bệnh loét đại tràng, với loạn khuẩn ruột, với nhiễm độc kim loại nặng (chì,thuỷ ngân...), với hội chứng tăng urê huyết. Phân biệt với các khối u đại trực tràng, khối u vùng tiểu khung v v...

5. Biến chứng

Bệnh viêm đại tràng do amip gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm ở đường tiêu hóa như:

- Viêm phúc mạc do thủng ruột thường bị chẩn đoán nhầm với thủng ruột thừa do có những triệu chứng tương tự nhau, bệnh có thể xảy ra ở một đoạn hoặc toàn bộ đại tràng. Khi xảy ra viêm phúc mạc ở một đoạn nào đấy chúng có thể phát triển thành viêm phúc mạc dính mạn tính hoặc viêm quanh manh tràng mạn tính.

- U amip (ameboma) đại tràng là biến chứng ít gặp. Chúng thường ở manh tràng hoặc đại tràng lên, hiếm gặp hơn có thể thấy ở đại tràng góc gan và góc lách. Kích thước u đôi khi lớn gây hẹp hoặc tắc lưu thông đại tràng. Tuy vậy, khi được điều trị đặc hiệu diệt amip thì u amip cũng giảm nhanh và mất đi.

- Polip đại tràng do lỵ amip là u tuyến (adenoma) lành tính kích thước to nhỏ khác nhau, phát triển ở phần niêm mạc đại tràng…

- Chảy máy ruột do lỵ amip: Chảy máu ruột thường gặp ở bệnh nhân lỵ amip cấp hoặc những đợt tái phát của lỵ amip mạn tính. Tuy vậy biến chứng này chỉ gặp ở 0,5% số bệnh nhân lỵ amip mà thôi.

- Sa niêm mạc trực tràng do lỵ amip: Đây cũng là biến chứng hiếm gặp và thấy ở bệnh nhân lỵ amip mạn -tính tái phát nhiều lần.

- Viêm ruột thừa do amip: Là biến chứng hiếm gặp nhưng nặng và nếu không được điều trị đặc hiệu thì tỷ lệ tử vong rất cao.

6. Điều trị

Điều trị đặc hiệu

Thuốc tác dụng trực tiếp do tiếp xúc

- Chiniofon (Mixiot, Yatren): Viên 0,2-0,25g dùng với liều 1,5g/ngày trong 10 ngày liên tục. Có thể kết hợp với Chiniofon thụt giữ vào lòng đại tràng (1-2g pha với 200 ml nước ấm).

- Iodoquinol viên 650mg/ngày, trong 10 ngày.

Thuốc tác dụng tới amip trong tế bào (niêm mạc ruột)

- Emetin: Liều 1 mg/kg nặng/ngày, tiêm bắp thịt trong vòng 5-7 ngày (0,04-0,06 gam/ngày; liều cả đợt: 0,01 gam/kg nặng). Trong những trường hợp cần thiết có thể dùng đợt nhắc lại, nhưng phải cách đợt đầu 45 ngày.

- Dehydroemetin (Mebadin): Tác dụng mạnh gấp 2 lần Emetin và ít độc hơn. Liều dùng 1mg/kg thể trạng/24 giờ, tiêm bắp thịt 5-7 ngày.

Thuốc tác dụng trên cả thể amip và thể kén

- Metronidazol (Flagyl, Klion): Viên 0,25g dùng với liều 25-30mg/kg/ngày, trong 10 ngày.

Điều trị kết hợp

Các thuốc giảm đau và băng se niêm mạc ruột: Nếu bệnh nhân đau bụng nhiều do co thắt đại tràng thì dùng các thuốc giảm đau, giãn cơ như: Atropin, NOSPA, papaverin, spasmaverin v.v.. Không dùng các thuốc băng se niêm mạc ruột như: các muối bismuth; smecta...

Trong trường hợp áp xe gan, áp xe phổi có bội nhiễm vi khuẩn thì phải phối hợp thuốc diệt amip với thuốc kháng sinh (theo kháng sinh đồ), đồng thời phải giải quyết ổ áp xe bằng chọc hút hoặc phẫu thuật khi ổ áp xe gan do amíp quá to (đường kính > 6 - 8cm).

Tuy nhiên các thuốc này có thể gây ra một số tác dụng phụ như Chiniofont có thể gây tiêu chảy, emetin gây nôn, có độc tính cao...

7. Dự phòng

Biện pháp phòng bệnh chủ yếu là vệ sinh ăn uống, tránh để lây nhiễm kén amip vào thức ăn, nước uống. Sử lý phân, tuyệt đối không dùng phân tươi bón rau quả. Khi dùng rau quả tươi phải rửa sạch, phải khử trùng hoặc có sử lý bằng tia cực tím để diệt kén amip. Điều trị những người mang kén amip bằng metronidazol.

Hãy gọi đến tổng đài tư vấn 1900.0391 để được các chuyên gia tư vấn về bệnh đại tràng: viêm đại tràng, Đại tràng co thắt, Hội chứng ruột kích thích, rối loạn tiêu hóa,…

Chuyên mục: Bệnh lý đại tràng theo Y Học hiện đại


Tin mới cập nhật


Thảo luận