Thương Truật

Thứ 6, 20/11/2015 | 14:56

1. Tên khoa học: Atractylodes lancea(Thunb.) DC., Họ Cúc (Asteraceae).

Tên khác: Mao truật, Xích truậtthuong-truat.png

2. Nguồn gốc/ phân bố

Cây có nguồn gốc ở vùng Đông Á, được trồng từ lâu đời ở Trung Quốc Nhật Bản, Đài Loan. Ở Việt Nam, Thương truật được nhập trồng ở Sa Pa, cây sinh trưởng, phát triển tốt.

3. Đặc điểm thực vật

Cây thảo sống lâu năm, cao 30-70cm. Thân rễ phát triển thành củ, to nhỏ không đều, xếp thành chuỗi. Thân thẳng, ít phân nhánh. Lá mọc so le, gần như không cuống hoặc cuống rất ngắn, lá ở gốc chia 3 thuỳ, thuỳ giữa lớn hơn nhiều so với hai thuỳ bên. Lá phía trên hình mác nguyên, dài khoảng 4cm, rộng 1-1,5cm, mép có răng cưa nhọn.

Cụm hoa nhỏ và mảnh, mọc ở đầu cành thành đầu, bao bọc bởi nhiều lá bắc xếp lợp, lá bắc có phiến dai và long mi. Hoa hình ống màu trắng hoặc tím nhạt, những hoa phía ngoài là hoa cái, phía trong là hoa lưỡng tính, tràng xẻ 5 thuỳ, nhị 5; bầu có long mềm, quả khô. Mùa hoa: tháng 8-10.

4. Trong y học cổ truyền:

Bộ phận dùng

Thân rễ - Rhizoma Atractylodis

Phương pháp chế biến

Thu hoạch vào mùa xuân, thu. Đào lấy thân rễ, loại bỏ đất cát và rễ con, phơi hoặc sấy khô.

Thương truật đã loại bỏ tạp chất, rửa sạch, ủ mềm, thái lát dày, phơi khô.

Thương truật sao cám: Cho cám vào chảo, đun nóng, đợi khi khói bốc lên, cho phiến thương truật vào, sao cho tới khi mặt ngoài chuyển thành màu vàng thẫm, lấy ra, sàng bỏ cám. Cứ 100 kg Thương truật phiến dùng 10 kg cám gạo.

Tác dụng, Công dụng:

Vị cay, đắng, tính ấm quy kinh tỳ, vị.

Tác dụng: Kiện tỳ hoá thấp, trừ phong thấp, phát hãn giải biểu. Trị thấp trệ ở trung tiêu (bụng đầy chướng, buồn nôn, ăn không ngon), phong thấp đau nhức xương khớp, đau thần kinh ngoại biên, ngoại cảm phong hàn và thấp (cảm người nặng nề uể oải, không có mồ hôi), phù thũng.

Hướng dẫn sử dụng

Ngày uống 4 - 12 g, dạng thuốc sắc, thuốc bột

Tác dụng phụ và kiêng kỵ

Thận trọng khi dùng đối với bệnh nhân âm hư hỏa vượng.

Bài thuốc liên quan

Trị viêm dạ dày, ruột, đau bụng tiêu chảy, khó tiêu: Thương truật 160g, hậu phác 120g, trần bì 80g, cam thảo 40g. Các vị tán bột, trộn đều. Mỗi lần uống 8g với nước nóng, ngày 3 lần. Có thể nấu thành cao lỏng làm thuốc bổ hoặc trị tiêu chảy.

Trị lỵ amip bán cấp: Thương truật 12g, hoắc hương, bán hạ chế mỗi vị 8g, hạu phác, trần bì, mộc hương, sa nhân mỗi vị 6g, nhục quế, gừng mỗi vị 4g, đại táo 4 quả. Sắc uống ngày 1 thang.

Trị viêm đại tràng mạn tính thể táo: Thương truật, sài hồ, đương quy, nhân trần, chi tử (sao), đảng sâm, chỉ thực, bạch truật, táo nhân (sao đen) mỗi vị 12g, trúc nhự, cúc hoa mỗi vị 8g, bạc hà 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Trị đau nhức các khớp, các cơ, vận động khó, tê bì: Thương truật 12g, Ý dĩ 16g, hoàng kỳ, đảng sâm mỗi vị 12g, ma hoàng, ô dược, quế chi, khương hoạt, độc hoạt, phòng phong, xuyên khung, ngưu tất mỗi vị 8g, cam thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

5. Nghiên cứu hiện đại

Các nhóm hoạt chất, nhóm hoạt chất chính và tác dụng

Thân rễ thương truật có glycoside kali atractylat, atractylol, hydroxyatractylol, acetoxyatractylol, hinesol, beta-eudesmol.…

Tinh dầu thương truật có p.cimen, β-selinen, arcurcumen, elemol, β-eudesmol

Trong thương truật còn có các polysacharid.

Phương phát chiết xuất hiện đại

Nghiên cứu/ thử nghiệm dược lý/ lâm sàng hiện đại.

Tinh dầu Thương truật liều thấp có tác dụng an thần đối với ếch thực nghiệm, đồng thời khiến cho phản xạ tủy sống tăng mạnh, liều cao có tác dụng ức chế, làm tê liệt hô hấp và tử vong.

Thương truật có tác dụng bảo vệ gan trên chuột cống gây mô hình tổn thương gan bởi carbon tetraclorid.

Tinh dầu Thương truật in vitro có tác dụng ức chế tế bào ung thư thực quản.

Thương truật, Ngải diệp hun khói khử trùng có tác dụng diệt khuẩn đối với virus (như virus quai bị, cúm.), liên cầu khuẩn týp B, tụ cầu vàng và một số nấm gây bệnh.

Thương truật có tác dụng hạ đường huyết. Do dược liệu và chủng loại khác nhau, nên kết luận có khác. Có tác giả cho rằng glycosid Thương truật có tác dụng hạ đường huyết. Có tác giả cho thỏ gây đường huyết nhân tạo, chế phẩm Thương truật lúc đầu có tăng tiếp theo có hạ nhẹ. Khi thuốc được cho đều trong 10 ngày thì đường huyết hạ có ý nghĩa (từ mức 401mg% xuống 160mg%), nếu theo dõi trong 17 ngày mức đường huyết vẫn thấp hơn lúc bắt đầu thí nghiệm.

Nước sắc Thương truật bơm vào dạ dày chuột đồng, không có tác dụng lợi niệu, nhưng lượng bài tiết Natri và Kali lại tăng rõ.

Chuyên mục: Viên Đại Tràng ANVIDA, Tin tức


Tin mới cập nhật


Thảo luận