Mộc Hoa Trắng - Cây thuốc chữa nhiều bệnh

Thứ 6, 20/11/2015 | 14:52

1. Tên khoa học: Holarrhena antidysenterica (Roxb. et Flem.) A. DC., họ Trúc đào (Apocynaceae).

Tên khác: Mức hoa trắng, mức lông, sừng trâu, mức lá to, thừng mực lá to.

2. Nguồn gốc/ phân bố

Mộc hoa trắng phân bố rải rác ở vùng Nam Á và Đông Nam Á bao gồm Ấn Độ, Srilanka, Mianma, Thái Lan, Malaysia, Campuchia, Lào, Việt Nam và Nam Trung Quốc. Cây cũng có ở vùng nhiệt đới châu Phi. Ở Việt Nam cây thường thấy ở vùng núi thấp và trung du thuộc các tỉnh từ Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Lâm Đồng dọc theo miền Trung đến các tỉnh phía Bắc như Bắc Giang, Bắc Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Nội, Hòa Bình và nhiều tỉnh khác.

mộc hoa trắng

3. Đặc điểm thực vật

Cây nhỡ hoặc cây to, cao 10-15m, đường kính than có thể đến 40cm. Cành non nhẵn hoặc mang lông màu nâu đỏ, trên mặt có nhiều bì khổng trắng rõ. Sẹo lá còn sót lại thường nổi lên. Lá mọc dối gần như không cuống, không có lá kèm, nguyên, hình bầu dục đầu tù hay nhọn, đáy lá tròn hoặc nhọn, dài từ 12-15cm, rộng từ 4-8cm, mặt lá bóng, màu xanh lục nhạt. Hoa trắng, mọc thành xim hình ngù ở kẽ lá hay dầu cành. Quả là những đại màu nâu có vân dọc hơi hình cung dài 15-30cm, rộng 5- 7mm. Rất nhiều hạt dài 10-20mm, rộng 2- 2,5mm, dày 1-1,5mm màu nâu nhạt, đáy tròn, đầu hơi hẹp lõm một mặt, trên mặt có một đường con màu trắng hơi nhạt. Chùm lông của hạt màu hơi hung hung, dài 2-4,5cm. Toàn cây có nhựa mủ trắng. Mùa hoa: tháng 3-6, mùa quả: tháng 7-9.

4.Trong y học cổ truyền:

Bộ phận dùng: Hạt, vỏ thân

Phương pháp chế biến: Bóc vỏ ở than, cành to, cạo bỏ lớp vỏ bần bên ngoài, thái phiến dài 3-5cm, dày 1-3mm, phơi khô. Có thể sao vàng.

Tác dụng, Công dụng

Sát trùng, chỉ tả. Chữa lỵ amip và tiêu chảy: Mộc hoa trắng chứa hoạt chất conessin diệt được amip ở cả thể hoạt động và thể kén.

Hướng dẫn sử dụng

Thường dùng dạng bột, cồn thuốc, cao lỏng. Vỏ thân uống 10g; Hạt uống 3-6g. Cao lỏng 1/1 ngày uống 1-3g, Cồn hạt (1/5) ngày uống 2-6g.

Bài thuốc liên quan

Trị lỵ amip, viêm đại tràng: vỏ khô nấu với nước, cô thành cao đặc 1/10, mỗi ngày uống 1g cao, dùng riêng hoặc phối hợp với bột rễ hoàng đằng với tỷ lệ tương đương.

5. Nghiên cứu hiện đại

Các nhóm hoạt chất, nhóm hoạt chất chính và tác dụng.

Vỏ mộc hoa trắng chứa nhiều alkaloid 0,4%; gôm 9,56%, nhựa 0,2%, tanin 1,14%. Một số ancaloid đã được chiết: Conessin, Norconessin, Conessimin, Isoconessimin, Conessinidin, Conkurchinin, Holarrhin, Holarrhifin, …

Nghiên cứu/ thử nghiệm dược lý/ lâm sàng hiện đại.

Chất conessin rất ít độc. Với liều cao, tác dụng cùa nó gần giống mocphin, nó gây liệt đối với trung tâm hô hấp. Nếu tiêm, nó gây tê tại chỗ nhưng lại kèm theo hiện tượng hoại thư do đó không dùng gây tê được.

Conessin bài tiết một phần qua đường ruột, một phần qua dường tiểu tiện. Nó gầy hạ huyết áp và làm tim đập chậm.

Conesin kích thích sự co bóp ruột và tử cung.

Theo Janot M. M. và Cavier R. (1949. Ann. Pharmaceut. Franc: 549-552) conessin clohydrat, có tác dụng trừ giun đối với chuột bạch.

Trên lâm sàng, người ta dùng conessin clohydrat hay bromhydrat chữa lỵ amip. Hiệu lực như emetin lại hơn emetin ở chỗ ít độc và tiện dùng. Nó tấc dụng cả đối với kén và amip, còn cmetin chỉ tác dụng đối với amip. Hiện tượng không chịu thuốc rất ít hoặc không đáng kể.

Chuyên mục: Viên Đại Tràng ANVIDA, Tin tức


Tin mới cập nhật


Thảo luận